Thành phần hóa học trung bình của
lúa mì theo % như sau:
- Nước: 14 - 15
%,
- Protein: 13 -15%
- Chất béo: 2,3 - 2,8
% -
Tinh bột: 65 - 68%
- Ðường trước chuyển hóa: 0,10 - 0,15 % - Pentoza: 8 -
9 %
- Ðường sau chuyển hóa: 2,5 -
3,0% - Xelluloza: 2,5 -
3,0%
- Tro: 1,8 - 2,0 %
Ngoài các chất trên, trong lúa mì còn có một lượng dextrin, muối khoáng, sinh
tố, chất men và một số chất khác.
Các chất này phân bố không đều trong từng phần của hạt. Protein chủ yếu tập
trung ở nội nhũ và lớp alơrông còn chất béo chủ yếu lại ở vỏ. Trong vỏ còn
nhiều xelluloza, pentoza, và chất tro. Trong phôi thì nhiều đường và chất béo.
Sự phân bố các chất trong hạt lúa mì (xem mỗi chất trong hạt là 100%)
|
Các
phần của hạt
|
Protein
|
Tinh
bột
|
Chất
béo
|
Ðường
|
Xenluloza
|
Pentoza
|
Tro
|
|
Hạt
Nội
nhũ
Vỏ
và alơrông
Phôi
|
100
65
27
8
|
100
100
-
-
|
100
25
55
20
|
100
65
15
20
|
100
5
90
5
|
100
28
68
4
|
100
20
70
10
|
a)
Protein
Hàm
lượng protein của lúa mì dao động trong khoảng khá lớn từ 9,6¸25,8%. Ngoài
protein còn có một lượng nitơ phi protein chiếm khoảng 0,033¸0,061%.
Protein
lúa mì gồm albumin, globulin, gliadin và glutenin, trong đó chủ yếu là gliadin
và glutenin. Hai protein này chiếm khoảng 75% toàn lượng protein của lúa mì.
Hai protein này không hòa tan trong nước mà khi nhào với nước thì trương lên
tạo thành một khối dẻo đàn hồi gọi là gluten. Loại lúa mì khác nhau thì lượng
gluten khác nhau. Ðối với lúa mì bình thường thì lượng gluten tươi chiếm khoảng
20-25% khối lượng hạt. Gluten màu sáng xám, đàn hồi, độ giãn đứt cao.
Thành
phần hóa học của gluten phụ thuộc loại giống và chất lượng lúa mì. Trung bình
trong gluten sấy khô chứa khoảng 85% protein, 2-3 % chất béo, 2% chất khoáng,
còn lại khoảng 10-12% các chất gluxit.
Ðể đánh giá chất lượng gluten người
ta dùng các chỉ số sau:
- Màu sắc: Gluten tốt có màu sáng đôi
khi xám hoặc hơi vàng, gluten xấu thì màu xám.
- Khả năng hút nước của gluten: Nếu
khả năng hút nước của gluten cao thì là gluten tốt vì vậy sau khi xác định
gluten tươi phải xác định lượng gluten khô. Bình thường gluten tươi chứa 65¸75% nước.
- Ðộ đàn hồi: Là tính chất rất quan
trọng của gluten. Nó thể hiện khả nãng giữ khí của bột.
- Độ căng đứt: Cũng đặc trưng cho
khả năng giữ khí của bột.
- Sự thay đổi thể tích gluten khi
nướng: Là chỉ số quan trọng đặc trưng độ nở của gluten.
Ðể ðánh giá chất lượng protein của
lúa mì không những chú ý tới hàm lượng và chất lượng gluten mà về mặt dinh
dưỡng cần phải chú ý tới thành phần aminoaxit của protein nữa.
b) Gluxit
Trong thành phần của lúa mì có nhiều
gluxit, trong đó tinh bột chiếm từ 48¸73%, ngoài ra còn có lượng đường khử từ
0,11¸0,37%, sacaroza 1,93¸3,67% và maltoza 0,93¸2,63%.
c) Chất tro
Trong lúa mì có một lượng nhỏ chất
tro. Nó phân bố không đều trong từng phần của hạt, chủ yếu là P, Ca và Mg.
d) Chất béo
Hạt lúa mì có một lượng nhỏ chất
béo. Theo Ivanop thì sự phân bố chất béo trong hạt chủ yếu tập trung ở phôi và
cám còn nội nhũ rất ít. Thành phần chất béo của lúa mì bao gồm axit béo no và
không no ( panmitic, xtearic, licnoseric, oleic, linolic, linolenic). Hàm lượng
chất béo trong từng phần của hạt lúa mì được thể hiện qua bảng sau.
Hàm lượng chất béo trong từng phần
của hạt lúa mì ( theo % chất khô)
|
Hạt và sản phẩm chế biến
|
Khoảng
dao động
|
Trung
bình
|
|
Hạt
|
1,42 -
3,20
|
1,92
|
|
Bột trắng (lõi bột của nội nhũ)
|
0,82 -
1,44
|
1,18
|
|
Cám (lớp alơrông và vỏ)
|
3,68 -
6,78
|
5,12
|
|
Phôi
|
7,14 -
15,80
|
8,76
|
e) Vitamin
Trong lúa mì có một lượng vitamin gồm vitamin A, nhóm B, H,
E, K và một vài loại khác.
Vitamin A, B1, B2, B3, E… chủ yếu tập trung ở phôi hạt vì
vậy thường dùng cám mì để sản xuất các vitamin này. Ngoài những chất trên,
trong lúa mì còn có một lượng chất men như amylaza, men thủy phân protein, men
oxy hóa khử, lipoxydaza, phitaza, lipaza...